Thứ 6, ngày 16 tháng 8, 2019, 8:36:21 Chiều

Bộ sách: Gốm Cây Mai - Đề ngạn Sài Gòn xưa; Gốm Sài Gòn; Tranh trường Khmer Nam bộ: "Tìm về di sản mỹ thuật truyền thống Nam bộ"

07/11/2020 19:40

Mỹ thuật truyền thống Nam bộ gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất này. Dấu tích xưa xuất hiện của dòng mỹ nghệ chế tác gốm Nam bộ và thị hiếu sáng tác bích họa tranh tường Khmer Nam bộ của những nghệ nhân chuyển biến theo dòng thời gian. 

Bộ sách: Gốm Cây Mai - Đề ngạn Sài Gòn xưa; Gốm Sài Gòn; Tranh trường Khmer Nam bộ.

Người Khmer Nam bộ tiếp thu tôn giáo - văn hóa thông qua nghệ thuật tranh tường.
Từ lâu đời, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Ấn Độ, thông qua đạo Bà La Môn rồi đạo Phật. Văn hóa Ấn Độ thâm nhập vào cộng đồng người Khmer thông qua con đường truyền đạo của các giáo sĩ và thương nhân nên sắc thái văn hóa đó dần dần được Khmer hóa, nhuần nhị như chính sự phát triển tự thân của văn hóa bản địa Khmer. Người Khmer từ lúc mới lọt lòng đến khi trưởng thành và từ giã cõi đời, đều lấy ngôi chùa làm trung tâm cuộc sống. Người Khmer Nam bộ tiếp thu tôn giáo – văn hóa thông qua nhiều con đường trong đó có nghệ thuật tranh tường.


Tranh tường Khmer kế thừa thành tựu nghệ thuật tạo hình truyền thống mà trực tiếp là nghệ thuật trang trí nội ngoại thất tự viện, tranh cuộn trên vải/preah bot, tranh vẽ trên giấy bìa “kờrăng”. Cuốn sách đi sâu vào tìm hiểu về nguồn gốc, lịch sử, nội dung, nghệ thuật và đặc điểm, tính chất của tranh tường Khmer. Tác phẩm còn đề cập đến nghề vẽ tranh tường và tập thành tranh tường do các thế hệ nghệ nhân Khmer tạo tác nội - ngoại thất ở một số chùa tháp Phật giáo Nam tông Khmer tại các tỉnh An Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang... 

Gốm Cây Mai - Kẻ tiên phong đắc hữu nhiều kỹ pháp nhất.

NNC Huỳnh Ngọc Trảng chọn Gốm Cây Mai là tác phẩm mở đầu cho dòng sách về gốm khởi nguồn từ lý do lịch sử xuất hiện lần lượt của các dòng gốm tại vùng đất Nam kỳ xưa: “Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, tình hình sản xuất gốm ở Nam kỳ được một số tác giả người Pháp đề cập đến trong các tạp chí nghiên cứu và trong các địa phương chí các tỉnh ở Nam kỳ. Đặc biệt tường tận là bài khảo cứu về kỹ nghệ làm đồ đất nung ở Nam kỳ của đại úy công binh Derbès. Nếu Gốm Cây Mai xuất hiện trong lịch sử gốm mỹ thuật Nam kỳ như những kẻ tiên phong đã ảnh hưởng đến các dòng gốm Hậu Cây Mai sau này đáng kể”. Điểm nổi bật của dòng gốm này là sành cứng có men màu với xương gốm chắc bền vững hơn. Bảng màu tuy không phong phú (màu xanh lam, màu xanh ve chai; các màu bổ trợ là màu vàng, màu đen, màu nâu đỏ, nâu và trắng) nhưng tạo ra sắc thái riêng, nằm giữa sự mộc mạc và mỹ lệ, như một tạo tác hình khối mãnh liệt. Đổi lại, gốm Cây Mai sở hữu hầu như tất cả kỹ pháp trang trí để xuất hiện phổ biến khắp các công trình gốm gia dụng, gốm xây dựng, gốm gia dụng bài trí, gốm thờ tự, tượng thờ, tượng trang trí, ngõa tích trang trí… Tiếc thay, các dòng gốm hậu Cây Mai sau này khi quá trình đô thị hóa ở vùng Chợ Lớn phát triển (thiếu nguyên liệu và bất tiện hơn) khiến cho các nghệ nhân hàng đầu của dòng gốm này bước sang công cuộc dịch chuyển về làng nghề Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Thủ Đức…

Gốm Sài Gòn nghệ phẩm thời danh của Hòn ngọc Viễn Đông.

Gốm Sài Gòn là tên gọi để chỉ một dòng sản phẩm gốm sứ ra đời từ những thập niên đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, trong thực tế việc sử dụng tên gọi “Gốm Sài Gòn” trong vài thập niên qua đã bị một số nhà nghiên cứu sử dụng tùy tiện: Đồng nhất gốm Cây Mai với gốm Sài Gòn hoặc để chỉ chung cho các sản phẩm của tất cả các dòng sản phẩm gốm sứ đã được sản xuất ở Sài Gòn - Chợ Lớn (hiểu là địa bàn thuộc Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay), hoặc để chỉ dòng sản phẩm gốm sứ bạch dứu ra đời vào nửa đầu thế kỷ XX. Như vậy, do nhân duyên lịch sử, khởi đi từ cái mốc năm 1923, với những tri thức và kỹ năng của đội ngũ nghệ nhân gốm Phong Khê nhập cư vào Sài Gòn - Chợ Lớn đã làm cho dòng gốm bạch dứu phát triển, đạt được dòng sản phẩm chất lượng cao. Gốm Sài Gòn thịnh về  sự lịch lãm và sắc nét với hai gam màu chủ đạo là trắng xanh và ngũ sắc được vẽ trau chuốt và kỳ công. Trong bối cảnh lịch sử đó, chúng được định danh là “Gốm Sài Gòn” – bởi danh xưng Sài Gòn bấy giờ có phần thời thượng của xứ đô hội được mệnh danh là Hòn ngọc Viễn Đông. Cùng chung số phận với Gốm Cây Mai, vào giữa thế kỷ XX dưới sức ép đô thị hóa của vùng Sài Gòn - Chợ Lớn, đồng thời với sự cạn kiệt dần nguồn nguyên liệu sản xuất, nhiều lò gốm buộc phải di dời về tỉnh Thủ Dầu Một (Bình Dương ngày nay) và một số chủ lò vẫn tiếp tục giữ thương hiệu cũ.

Thông tin tác giả:
* NNC Huỳnh Ngọc Trảng
Quê quán: Tịnh Khê, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi
Sinh năm 1952
Là tác giả và chủ biên của hàng loạt tác phẩm, công trình nghiên cứu có giá trị: Đặc khảo tín ngưỡng thờ gia thần; Đọc lại cổ tích; Câu chuyện văn hóa; Sài Gòn - Gia Định: Ký ức, lịch sử, văn hóa; Nghìn năm bia miệng; Khảo luận về Tết; Đồng dao và trò chơi truyền thống; Đình Nam bộ xưa & nay; Gia Định-Sài Gòn: Hò, hát, lý, vè và diễn xướng lễ hội; Tổng tập văn học dân gian Nam bộ (đang thực hiện 4/12 tập); Gốm Cây Mai - Đề ngạn Sài Gòn xưa; Gốm Sài Gòn…
* NNC Huỳnh Thanh Bình
Sinh năm 1985
Tốt nghiệp cử nhân Xã hội học. Đại học Tôn Đức Thắng, 2007
Tốt nghiệp cử nhân Tiếng Anh, Đại học Tôn Đức Thắng, 2012
Tốt nghiệp thạc sĩ Văn hóa học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP.HCM, 2019
Hiện công tác tại Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh
Sách đã xuất bản: Tranh kiếng Nam bộ (2013); Biểu tượng thần thoại về chư thiên và linh vật Phật giáo (2018)

Bạn đang đọc bài viết "Bộ sách: Gốm Cây Mai - Đề ngạn Sài Gòn xưa; Gốm Sài Gòn; Tranh trường Khmer Nam bộ: "Tìm về di sản mỹ thuật truyền thống Nam bộ"" tại chuyên mục LÀM ĐẸP TÂM HỒN. Mọi góp ý, chia sẻ xin gửi về email (Kimthanh2088@gmail.com) hoặc gọi số điện thoại (0938.463.719)